NOBASHI
NOBASHI VANNAMEI
RAW
HO CENTRAL PEELED BT
COOKED
COOKED PDTO VANNAMEI
PRE-FRIED SHRIMP
FRITTER VANNAMEI
VEGETABLES
GINGER
VEGETABLES
BÍ NHẬT
NOBASHI
NOBASHI VANNAMEI

XUẤT KHẨU TÔM SANG EU, TẬN DỤNG LỢI THẾ KHI EVFTA CÓ HIỆU LỰC

tts-26062019-1(vasep.com.vn) Việt Nam sẽ có thêm cơ hội đẩy mạnh XK tôm sang EU sau khi Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam với Liên minh Châu Âu (EVFTA) có hiệu lực.
Tháng 11/2015, Việt Nam và EU chính thức kết thúc đàm phán Hiệp định EVFTA. Hiện nay, hai bên đang giải quyết nốt các vấn đề kỹ thuật và hoàn thiện văn bản hiệp định. Hiệp định dự kiến có hiệu lực trong năm 2019.

Theo cam kết, sau khi Hiệp định có hiệu lực, hàng hóa Việt Nam trong đó có mặt hàng tôm sẽ được hưởng thuế ưu đãi đặc biệt.

EU chủ yếu NK tôm nguyên liệu đông lạnh và tôm chế biến từ Việt Nam. Theo cam kết, ngay khi EVFTA có hiệu lực, thuế NK tôm nguyên liệu mã HS 03061100 (tôm hùm xanh ướp đá; tôm sú HOSO, DP đông lạnh; tôm sắt PD tươi đông lạnh; tôm hùm xanh ướp đá; tôm mũ ni vỏ, nguyên con, xẻ đông lạnh…) vào EU sẽ về 0% từ mức hiện tại là 12,5%, thuế sản phẩm tôm mã HS 03061710 (tôm sú PD đông lạnh, tôm sú nguyên con HOSO đông lạnh, tôm sú lặt đầu còn vỏ, tôm sú tươi đông lạnh, tôm sú thịt đông lạnh, tôm sú HLSO tươi đông lạnh, tôm sú đông IQF, tôm thẻ thịt đông lạnh…) về 0% từ 20% hiện tại. Tôm mã HS 03061791, 03061792, 03061793, 03061799 sẽ giảm thuế về 0% từ 12% hiện tại. Tôm mã HS 03061794 sẽ giảm về 0% từ 18% hiện tại sau 5 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.

 

Đối với sản phẩm tôm chế biến, tôm mã HS 16052110 (tôm dạng bột nhão) từ mức 20% hiện tại sẽ điều chỉnh về 0% sau 7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực; tôm mã HS 16052190 (tôm khác) từ 20% về 0% sau 7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.

Hiện tại, mức thuế GSP mà EU dành cho Việt Nam đối với tôm nguyên liệu đông lạnh (HS 030617) là 4,2%; tôm chế biến đông lạnh (HS 160521) là 7%. Tuy nhiên, sản phẩm của Việt Nam phải đáp ứng các tiêu chuẩn xuất xứ của EU để được hưởng mức thuế này. Việt Nam có lợi thế hơn so với 2 nước đối thủ là Thái Lan và Trung Quốc vì 2 nước này không được hưởng GSP của EU.

EU chiếm khoảng 30,6% tổng giá trị NK tôm của toàn thế giới. NK tôm của EU dao động từ 6-8 tỷ USD mỗi năm.

Theo số liệu của Trung tâm Thương mại Thế giới (ITC), năm 2018, NK tôm vào EU đạt hơn 7 tỷ USD; tăng 0,5% so với năm 2017. Tây Ban Nha và Pháp là 2 thị trường NK tôm lớn nhất của EU. Giá trị NK tôm của Tây Ban Nha đạt 1,2 tỷ USD, giảm 2%; Pháp đạt 937,6 triệu USD, giảm 1% so với năm 2017.

Theo số liệu của Hải quan Việt Nam, 4 tháng đầu năm 2019, XK tôm Việt Nam sang EU đạt gần 184 triệu USD, giảm 25,7% so với cùng kỳ năm 2018.

EU vẫn là thị trường NK tôm lớn nhất của Việt Nam, chiếm 21,7% tổng giá trị XK tôm của Việt Nam đi các thị trường.

XK tôm sang EU những tháng đầu năm nay giảm một phần do nguồn cung tôm thế giới tăng, kéo giá tôm XK giảm, những xáo trộn về kinh tế, chính trị đang diễn ra tại EU cũng tác động tới xuất nhập khẩu tôm tại thị trường này.

Anh, Đức, Hà Lan là 3 thị trường đơn lẻ lớn nhất về NK tôm Việt Nam trong khối EU. Giá trị XK sang 3 thị trường này đều giảm ở mức 2 con số trong 4 tháng đầu năm nay.

Trên thị trường EU, Việt Nam phải cạnh tranh chủ yếu với Ấn Độ và Ecuador. Trong khi Ấn Độ có xu hướng giảm XK tôm cho EU do vấn đề chất lượng. Ecuador cũng có xu hướng tăng cường XK tôm thị trường này sau khi FTA giữa Ecuador và EU có hiệu lực.

Với EVFTA, DN Việt Nam cũng phải đối mặt với các thách thức về quy tắc xuất xứ, nguy cơ về các biện pháp phòng vệ thương mại. Trong quá trình EVFTA đang được phê chuẩn, DN cần chủ động nắm vững các cam kết của Việt Nam và đối tác để có kế hoạch XK phù hợp.

Tuy giá trị XK giảm trong 4 tháng đầu năm nhưng với EVFTA dự kiến có hiệu lực trong năm nay cộng với những lợi thế về thuế quan mà các đối thủ cạnh tranh là Ấn Độ và Thái Lan không có, EU vẫn được coi là thị trường trọng điểm của XK tôm Việt Nam trong năm 2019.

Kim Thu

 

(Theo Vasep )